Có, trong một số trường hợp. Theo Bộ luật Dân sự 2015, cả bên uỷ quyền lẫn bên được uỷ quyền đều có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng uỷ quyền bất cứ lúc nào. Điều kèm theo khác nhau: uỷ quyền có thù lao thì bên uỷ quyền phải trả thù lao tương ứng với phần việc đã làm và bồi thường thiệt hại, còn bên được uỷ quyền bỏ ngang phải bồi thường thiệt hại cho bên uỷ quyền nếu có; uỷ quyền không thù lao thì bên nào chấm dứt cũng chỉ cần báo trước cho bên kia một thời gian hợp lý.
Vì vậy câu hỏi đúng không phải là "có được rút không" mà là "rút thì mất gì". Bài này đi qua bốn trường hợp, cách tính phần thù lao đã làm, thiệt hại gồm những gì, và trình tự rút lại uỷ quyền sao cho ít tốn kém nhất.
Bốn trường hợp trong một bảng
Hai câu hỏi xác định trường hợp của bạn: ai là người muốn dừng, và hợp đồng có thù lao hay không.
| Ai chấm dứt | Uỷ quyền có thù lao | Uỷ quyền không thù lao |
|---|---|---|
| Bên uỷ quyền | Trả thù lao tương ứng phần việc đã làm và bồi thường thiệt hại | Báo trước cho bên được uỷ quyền một thời gian hợp lý |
| Bên được uỷ quyền | Bồi thường thiệt hại cho bên uỷ quyền, nếu có | Báo trước cho bên uỷ quyền một thời gian hợp lý |
Đây là nguyên tắc chung khi hợp đồng không thoả thuận khác. Hai bên có thể thoả thuận thêm, chẳng hạn thời hạn báo trước cụ thể hay một khoản phạt khi chấm dứt trái thoả thuận, miễn không trái luật. Phạt vi phạm chỉ đòi được khi có thoả thuận, không tự nhiên mà có.
Một lưu ý về người thứ ba: bên chấm dứt phải báo cho bên kia, và bên uỷ quyền nên báo cho những người thứ ba đang giao dịch với người được uỷ quyền. Chưa báo mà người thứ ba không biết, không buộc phải biết, thì giao dịch họ ký với người được uỷ quyền vẫn có thể ràng buộc bạn. Thời điểm hiệu lực của việc huỷ uỷ quyền là đề riêng, nên đọc kỹ trước khi gửi thông báo.
Thù lao "tương ứng với công việc đã thực hiện" tính thế nào
Luật chỉ nói nguyên tắc, cách tính phụ thuộc vào cách bạn đã thoả thuận thù lao. Nếu thù lao chia theo mốc, ví dụ giả định ba mốc là nộp hồ sơ, nhận kết quả, bàn giao, thì việc đã qua mốc nào được trả mốc đó, phần đang làm dở thường được thương lượng theo tỷ lệ. Nếu thù lao là một khoản trọn gói, người ta ước phần việc đã làm so với toàn bộ, dựa trên số bước, thời gian đã bỏ ra và giấy tờ đã có.
Khó nhất là thù lao tính phần trăm trên kết quả, như phần trăm trên số tiền bán được hoặc số tiền thu hồi được. Rút việc khi chưa có kết quả thì chưa có con số để nhân phần trăm. Nhưng nếu bên uỷ quyền rút việc chính để tránh trả phần trăm, chẳng hạn tự ký bán cho đúng người mua mà người làm thay đã tìm và đàm phán gần xong, thì nguyên tắc chung của luật dân sự là một bên không được cố ý cản trở điều kiện để rồi hưởng lợi. Tình huống đó dễ dẫn tới tranh chấp và người làm thay có cơ sở đòi.
Vì thế, khi thoả thuận thù lao phần trăm, nên thêm một dòng: nếu bên uỷ quyền chấm dứt trước, thì trả phần nào, và trong bao lâu sau khi chấm dứt mà giao dịch với người do người làm thay giới thiệu vẫn được tính.
Thiệt hại phải bồi thường gồm những gì, không gồm những gì
Tổn thất vật chất thực tế. Ví dụ: tiền đã chi cho phần việc giờ trở thành vô ích, khoản đặt cọc mất vì việc bị bỏ dở. Phải có chứng từ hoặc chứng cứ cụ thể.
Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại. Ví dụ: chi phí thuê người khác làm tiếp gấp để kịp thời hạn, phần chênh lệch so với chi phí ban đầu.
Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút. Phải chứng minh được là có thật và gắn với việc chấm dứt, không phải ước đoán xa. Người làm thay từ chối một việc khác có thù lao để nhận việc này, rồi bị rút việc đột ngột, có thể viện dẫn, nhưng cần chứng cứ.
Không tự động gồm toàn bộ thù lao của phần việc chưa làm. Bên uỷ quyền rút việc không có nghĩa phải trả đủ thù lao như khi việc hoàn tất. Phần chưa làm chỉ được tính nếu chứng minh được nó là thiệt hại thực tế, hoặc hai bên đã thoả thuận như vậy.
Bên bị thiệt cũng phải hạn chế thiệt hại. Biết sắp bị chấm dứt mà vẫn chi thêm, hay để thiệt hại lan rộng trong khi có thể ngăn, thì phần tăng thêm đó khó đòi.
Uỷ quyền không thù lao: "thời gian hợp lý" là bao lâu
Luật không ghi số ngày. Thời gian hợp lý là đủ để bên kia thu xếp mà không bị thiệt một cách vô lý, và nó tuỳ vào công việc. Với việc nhận một khoản tiền ở cơ quan chi trả, vài ngày có thể là đủ để bên uỷ quyền tự đi hoặc nhờ người khác. Với việc quản lý nhà cho thuê đang có người thuê, cần lâu hơn để chuyển giao chìa khoá, hợp đồng, liên lạc với người thuê.
Ví dụ giả định: anh Nam ở Thanh Hoá nhờ bạn thân không lấy tiền trông coi và cho thuê một căn phòng trọ ở Bắc Ninh. Bạn nhắn tối nay rằng từ mai không làm nữa, đúng lúc người thuê sắp hết hợp đồng và có khách đang hẹn xem phòng. Việc báo như thế khó coi là hợp lý. Nếu vì vậy anh Nam mất khách và phòng bỏ trống, anh có cơ sở đề nghị bạn chia sẻ thiệt hại, dù việc giúp vốn không công.
Cách tránh tranh cãi là ghi luôn vào hợp đồng một con số cụ thể, ví dụ báo trước ít nhất mười lăm ngày hoặc một tháng, tuỳ việc. Con số do hai bên đặt ra thường dễ thực hiện hơn nhiều so với tranh luận về chữ "hợp lý". Khi bên uỷ quyền là người rút việc, thời gian báo trước cũng giúp người giúp mình thu dọn giấy tờ, kê lại chi phí đã ứng và chào những người đang làm việc dở với họ một cách đàng hoàng.
Hai bên cùng muốn dừng: thoả thuận chấm dứt thay vì đơn phương
Không phải lúc nào chấm dứt cũng là chuyện một bên muốn, một bên không. Rất nhiều trường hợp cả hai đều thấy nên dừng: việc không còn cần nữa vì người uỷ quyền đã về nước, tài sản đã bán theo cách khác, hoặc hai người thấy không hợp nhau. Khi đó, thoả thuận chấm dứt là đường gọn hơn nhiều so với một bên gửi thông báo đơn phương.
Thoả thuận chấm dứt cho phép hai bên tự chốt mọi thứ trong một văn bản: ngày chấm dứt, phần thù lao đã làm được trả bao nhiêu, chi phí còn phải hoàn, giấy tờ và tiền bàn giao khi nào, và quan trọng nhất là câu xác nhận không còn yêu cầu gì khác với nhau về hợp đồng này. Câu cuối đó giúp đóng hẳn câu chuyện, tránh việc vài tháng sau một bên quay lại đòi thêm.
Với hợp đồng uỷ quyền đã công chứng, thoả thuận huỷ bỏ hoặc chấm dứt thường cũng nên làm tại tổ chức hành nghề công chứng, để bên thứ ba và các cơ quan có căn cứ đối chiếu. Thủ tục cụ thể bạn hỏi nơi đã công chứng hợp đồng gốc.
Trình tự rút lại uỷ quyền cho đỡ tốn
Áp dụng khi bạn là bên uỷ quyền và đã quyết định dừng:
- Đọc lại hợp đồng: có thù lao không, cách tính, thời hạn báo trước, khoản phạt nếu có.
- Hỏi người làm thay tình trạng hiện tại: việc đã đến đâu, đã chi những gì, có giao dịch nào sắp ký với bên thứ ba.
- Gửi thông báo chấm dứt bằng văn bản hoặc tin nhắn có thể lưu, ghi ngày có hiệu lực, yêu cầu bàn giao.
- Báo cho những người thứ ba đang làm việc với người được uỷ quyền, và với hợp đồng công chứng thì tìm hiểu thủ tục huỷ tại tổ chức hành nghề công chứng.
- Nhận bàn giao giấy tờ, tiền, bản kê chi phí; đối chiếu và thanh toán phần thù lao đã làm, chi phí hợp lý.
- Lập một văn bản ngắn xác nhận hai bên đã thanh toán xong, không còn yêu cầu gì với nhau, nếu thực sự đã xong.
Thứ tự trên có lý do: hỏi tình trạng trước khi gửi thông báo giúp bạn tránh rút việc đúng lúc một giao dịch có lợi sắp hoàn tất, và tránh bị đòi bồi thường cho thiệt hại mà chỉ cần chờ vài ngày là không xảy ra.
Khi số tiền lớn hoặc hai bên đã căng thẳng
Với việc nhà đất, tiền lớn, hoặc khi người làm thay đang giữ bản gốc giấy tờ quan trọng mà không chịu giao, chuyện chấm dứt dễ trượt thành tranh chấp. Đừng tự đăng tải chuyện riêng lên mạng hay tìm cách giữ đồ của người kia để gây sức ép; những cách đó thường làm bạn yếu thế khi phải ra hoà giải hay ra toà.
Nên giữ đủ chứng cứ: hợp đồng, tin nhắn giao việc, báo cáo, bản kê chi phí, thông báo chấm dứt đã gửi. Hãy thử thương lượng trước với một con số cụ thể cho phần việc đã làm. Nếu không thoả thuận được, hoà giải ở cơ sở hoặc hoà giải tại toà là những bước thường được dùng trước khi khởi kiện.
Tình huống có tài sản lớn hoặc giao dịch với bên thứ ba đang dở dang thì nên hỏi người làm nghề luật trước khi gửi thông báo. Bạn có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn để được xem cụ thể hợp đồng của mình và cách tính phần thù lao, thiệt hại cho phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
Hợp đồng uỷ quyền ghi không được đơn phương chấm dứt thì có rút được không?
Điều khoản như vậy dễ bị tranh cãi, vì luật trao cho các bên quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng uỷ quyền. Thực tế, điều khoản này thường được hiểu là chấm dứt thì phải chịu hậu quả đã thoả thuận, như bồi thường hoặc phạt. Trường hợp cụ thể nên hỏi người làm nghề luật.
Bên uỷ quyền rút việc có phải trả lại tiền thù lao đã ứng trước không?
Ngược lại: người làm thay mới là người có thể phải trả lại phần thù lao đã nhận vượt quá phần việc đã làm. Còn nếu thù lao đã nhận ít hơn phần việc đã làm, bên uỷ quyền phải trả thêm phần chênh lệch.
Chưa báo cho người thứ ba mà người được uỷ quyền vẫn ký hợp đồng thì sao?
Nếu người thứ ba không biết và không buộc phải biết việc chấm dứt, giao dịch đó có thể vẫn ràng buộc bên uỷ quyền. Người được uỷ quyền đã biết bị chấm dứt mà vẫn ký thì phải chịu trách nhiệm với bên uỷ quyền về thiệt hại gây ra.
Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có đòi cùng lúc được không?
Nếu hai bên có thoả thuận phạt vi phạm, việc đòi cả phạt lẫn bồi thường phụ thuộc vào cách thoả thuận. Luật dân sự cho phép thoả thuận chỉ phạt, chỉ bồi thường hoặc cả hai. Không thoả thuận về phạt thì chỉ đòi được bồi thường thiệt hại thực tế.
Thông báo chấm dứt qua tin nhắn có hợp lệ không?
Với quan hệ giữa hai bên, tin nhắn lưu được, thể hiện rõ ý chí và ngày hiệu lực thường đủ làm chứng cứ. Nhưng với hợp đồng đã công chứng hoặc khi cần báo cho cơ quan, bên thứ ba, nên làm văn bản và theo thủ tục ở nơi đã công chứng.
Uỷ quyền không thù lao giữa vợ chồng, cha con có cần báo trước không?
Có, nguyên tắc báo trước thời gian hợp lý áp dụng cho mọi uỷ quyền không thù lao, không phân biệt quan hệ. Trong gia đình, việc báo trước còn giúp tránh tình huống người kia đang dở tay với cơ quan hay người mua.