UyNhiem.comUỷ Nhiệm
Thù lao, nghĩa vụ và chấm dứt hợp đồng uỷ quyền

Uỷ quyền có thù lao và không thù lao: khác ở tiền công, trách nhiệm và lúc rút lui

Có thoả thuận thù lao hay không làm đổi quyền đòi tiền công, cách nhìn trách nhiệm khi làm hỏng việc và điều kiện để mỗi bên rút khỏi hợp đồng uỷ quyền.

Two middle-aged women sitting on low plastic stools at a sidewalk tea stall in Hai Phong, one passing a plain envelope to the other, seen from behind, soft morning light

Hợp đồng uỷ quyền không mặc nhiên có tiền công. Theo Bộ luật Dân sự 2015, bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao khi hai bên có thoả thuận hoặc khi pháp luật có quy định riêng. Hợp đồng không nói gì về thù lao thì người làm thay được hiểu là giúp không công, dù họ vẫn có quyền đòi lại những chi phí hợp lý đã bỏ ra để làm việc được giao.

Khác biệt không dừng ở chuyện tiền. Có thù lao hay không làm thay đổi điều kiện để mỗi bên rút lui giữa chừng, và trên thực tế cũng làm thay đổi mức cẩn trọng mà người ta chờ đợi ở người làm thay. Bài này đặt hai loại cạnh nhau để bạn biết mình đang ký loại nào, và nên ghi thêm những dòng gì để sau này không phải cãi nhau với chính người thân hay nhân viên của mình.

Thù lao và chi phí: hai khoản hay bị gộp làm một

Thù lao là tiền công trả cho chính công sức, thời gian và hiểu biết của người được uỷ quyền. Chi phí là khoản tiền họ phải chi ra để làm được việc: lệ phí nộp cho cơ quan nhà nước, tiền xe đi lại, tiền sao chụp và chứng thực bản sao, tiền gửi hồ sơ qua bưu chính, tiền thuê đơn vị đo đạc nếu việc cần. Luật buộc bên uỷ quyền thanh toán chi phí hợp lý kể cả khi uỷ quyền không có thù lao. Hai khoản này độc lập với nhau, và lẫn hai khoản là nguồn gốc của rất nhiều cuộc cãi vã.

Ví dụ giả định: chị Lan ở Cà Mau nhờ cậu em họ đang sống ở Thành phố Hồ Chí Minh làm thủ tục nhận một khoản tiền bảo hiểm, hai người không bàn chuyện tiền công. Cậu em đi lại ba lần, trả tiền xe và tiền sao chụp. Chị Lan không nợ tiền công, nhưng tiền xe và tiền sao chụp thì phải hoàn lại nếu cậu em đề nghị. Ngược lại, xong việc cậu em cũng không thể quay sang đòi "tiền công mấy buổi" vì trước đó không có thoả thuận.

Chữ "hợp lý" là chỗ dễ vướng. Đi taxi thay vì xe buýt, ở khách sạn thay vì về trong ngày, thuê dịch vụ làm hộ một khâu mà mình tự làm được: những khoản này có hợp lý hay không tuỳ hoàn cảnh. Cách đơn giản nhất là thoả thuận trước một hạn mức, khoản nào vượt thì hỏi trước.

Đặt hai loại cạnh nhau

Bảng dưới tóm theo nguyên tắc của Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng uỷ quyền. Hai bên vẫn có thể thoả thuận khác ở nhiều điểm, miễn không trái luật.

Nội dungUỷ quyền có thù laoUỷ quyền không thù lao
Tiền côngĐược trả theo mức, cách tính và thời điểm đã thoả thuậnKhông có, trừ khi sau đó hai bên thoả thuận thêm
Chi phí hợp lý đã bỏ raĐược thanh toán, trừ khi đã thoả thuận thù lao bao gồm cả chi phíĐược thanh toán
Bên uỷ quyền muốn dừng sớmĐược, nhưng trả thù lao tương ứng phần việc đã làm và bồi thường thiệt hạiĐược, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý
Bên được uỷ quyền muốn rútĐược, nhưng phải bồi thường thiệt hại cho bên uỷ quyền nếu cóĐược, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý
Khi làm hỏng việc gây thiệt hạiKhó viện lý do "chỉ giúp thôi"; người nhận tiền được chờ đợi làm như người làm nghềVẫn phải bồi thường nếu vi phạm nghĩa vụ; hoàn cảnh giúp không công thường được tính đến khi thương lượng

Hàng cuối của bảng là cách nhìn thực tế khi các bên thương lượng hoặc khi toà xem xét lỗi, không phải một quy tắc chia đôi trách nhiệm. Người giúp không công vẫn có nghĩa vụ làm đúng phạm vi, báo cáo trung thực và giao lại tiền, giấy tờ đã nhận. Không có thù lao không có nghĩa là không có trách nhiệm.

Không ghi thù lao trong hợp đồng thì sau này có đòi được không

Tình huống hay gặp: hợp đồng uỷ quyền công chứng chỉ ghi phạm vi công việc và thời hạn, không có chữ nào về tiền. Việc xong, người được uỷ quyền nói rằng hai bên đã hứa miệng trả một khoản phần trăm trên số tiền thu về. Bên uỷ quyền thì nói đó chỉ là nhờ giúp.

Thoả thuận về thù lao không bắt buộc phải nằm trong cùng tờ hợp đồng. Một tin nhắn, một email, một tờ giấy viết tay có chữ ký đều có thể là chứng cứ cho thấy hai bên đã thống nhất trả tiền công. Nhưng người đòi tiền là người phải chứng minh. Không có gì ngoài lời kể thì rất khó đòi, nhất là khi văn bản chính lại im lặng hoặc ghi rõ "không thù lao".

Chiều ngược lại cũng vậy. Bên uỷ quyền đã hứa trả công qua tin nhắn rồi không trả, viện cớ hợp đồng công chứng không ghi, thì vẫn có thể bị buộc trả nếu tin nhắn đó đủ rõ về số tiền hoặc cách tính. Bài học cho cả hai phía: muốn có thù lao thì ghi vào văn bản; không muốn có thì cũng ghi một dòng "uỷ quyền này không có thù lao; bên uỷ quyền thanh toán các chi phí hợp lý có chứng từ".

Uỷ quyền giữa người nhà: vì sao vẫn nên viết rõ chuyện tiền

Tránh hiểu lầm âm ỉ. Anh em ruột nhờ nhau làm sổ đất, con cái đi nhận tiền thay cha mẹ, cháu lo giấy tờ cho bác. Ban đầu không ai nghĩ đến tiền, nhưng khi việc kéo dài vài tháng, người làm thay bắt đầu thấy thiệt và người nhờ bắt đầu thấy bị kể công. Một dòng ghi rõ từ đầu cắt được phần lớn mâu thuẫn kiểu này.

Tách bạch tiền chung, tiền riêng. Người được uỷ quyền thường cầm tiền của bên uỷ quyền để nộp lệ phí hoặc nhận tiền thay. Ghi rõ không có thù lao giúp hai bên hiểu rằng toàn bộ tiền thu được đều phải giao lại, không có khoản nào được giữ làm công.

Quà cảm ơn không phải là thù lao. Bên uỷ quyền tặng một món quà sau khi xong việc là chuyện tình cảm, không biến hợp đồng thành có thù lao. Nhưng nếu đã hứa một khoản cụ thể trước khi làm, đó là thoả thuận và nên ghi lại.

Đặt hạn mức chi phí. Với việc kéo dài, ghi một con số chi phí tối đa mỗi tháng hoặc mỗi đợt, quá thì hỏi trước. Người làm thay đỡ phải ứng tiền rồi chờ, người nhờ đỡ bị bất ngờ với hoá đơn dồn lại.

Khi một bên muốn dừng giữa chừng

Đây là chỗ khác biệt rõ nhất giữa hai loại. Với uỷ quyền không thù lao, bên nào cũng có thể chấm dứt bất cứ lúc nào, chỉ cần báo trước cho bên kia một thời gian hợp lý để họ kịp thu xếp. Không có chuyện bồi thường vì "mất tiền công", vì vốn không có tiền công.

Với uỷ quyền có thù lao, bên uỷ quyền vẫn có thể rút lại việc bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao tương ứng với phần việc người kia đã làm và bồi thường thiệt hại nếu có. Bên được uỷ quyền cũng có thể bỏ ngang, nhưng phải bồi thường thiệt hại mà việc bỏ ngang gây ra cho bên uỷ quyền. Ví dụ giả định: người nhận tiền công để theo một bộ hồ sơ đất bỏ dở đúng lúc sắp hết hạn bổ sung giấy tờ, khiến hồ sơ bị trả về và bên uỷ quyền phải làm lại từ đầu; chi phí làm lại là thiệt hại có thể đòi.

Thời điểm việc chấm dứt có hiệu lực, cách báo cho bên thứ ba và số phận các giao dịch ký trong lúc chuyển tiếp là phần riêng về hiệu lực của giấy uỷ quyền. Ở đây chỉ cần nhớ: chấm dứt thì có thể, nhưng có thù lao thì đi kèm nghĩa vụ trả tiền và bồi thường, không thù lao thì đi kèm nghĩa vụ báo trước.

Những dòng nên có trong hợp đồng, tuỳ loại bạn chọn

Dù chọn loại nào, hợp đồng nên trả lời được các câu sau bằng chữ, không để mỗi bên tự hiểu:

  • Uỷ quyền này có thù lao hay không. Nếu có: một khoản cố định, theo từng mốc công việc, hay phần trăm trên số tiền thu được.
  • Thù lao đã gồm chi phí hay chưa. Nếu chưa: loại chi phí nào được hoàn, hạn mức bao nhiêu, cần chứng từ gì.
  • Thời điểm trả thù lao: trả trước một phần, trả khi xong từng mốc, hay trả khi việc hoàn tất.
  • Việc không thành vì lý do khách quan thì thù lao tính thế nào: trả theo phần việc đã làm, hay không trả.
  • Một bên chấm dứt sớm phải báo trước bao lâu, và cách tính tiền cho phần việc đã làm.
  • Tiền thu được thay bên uỷ quyền chuyển về tài khoản nào, trong bao lâu.

Câu cuối nghe như chuyện tiền thu hộ, nhưng thực tế nó gắn chặt với thù lao: người làm thay hay muốn trừ luôn tiền công vào tiền thu được. Chuyện đó được hay không nên ghi rõ, kẻo thành tranh chấp.

Thù lao và thuế: biết đến đâu là đủ

Thù lao nhận được là thu nhập của người được uỷ quyền. Tuỳ khoản tiền và tư cách người nhận, họ có thể phải kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định hiện hành; nếu bên trả là doanh nghiệp thì doanh nghiệp còn có nghĩa vụ khấu trừ, lưu chứng từ. Mức thuế và cách khai thay đổi theo từng thời kỳ, nên bạn đối chiếu với cơ quan thuế quản lý hoặc người làm kế toán, đừng dựa vào một con số nghe kể.

Điều nên tránh là ghi thù lao trong hợp đồng thấp hơn thực tế rồi trả phần còn lại "ngoài sổ". Ngoài rủi ro về thuế, khi có tranh chấp, bên nhận chỉ chứng minh được con số trên giấy, còn bên trả khó chứng minh khoản đã đưa thêm. Ghi đúng số tiền thật là cách bảo vệ cả hai phía.

Với uỷ quyền không thù lao giữa người nhà, phần thuế thường không đặt ra với chính việc uỷ quyền; điều cần lưu là chứng từ chi phí, để khi hoàn tiền cho nhau có căn cứ rõ ràng.

Câu hỏi thường gặp

Hợp đồng uỷ quyền công chứng không ghi thù lao thì có hợp lệ không?

Có. Thù lao không phải nội dung bắt buộc của hợp đồng uỷ quyền. Không ghi gì thì hiểu là không có thù lao, trừ khi người được uỷ quyền chứng minh được hai bên đã thoả thuận khác bằng chứng cứ rõ ràng như tin nhắn, email hay giấy viết tay.

Uỷ quyền không thù lao thì người làm thay có được đòi tiền xăng xe không?

Được, nếu đó là chi phí hợp lý để làm việc được giao. Luật tách chi phí khỏi thù lao. Nên giữ hoá đơn, biên lai hoặc ghi chép ngày giờ đi lại, và tốt nhất là thoả thuận trước hạn mức để tránh tranh cãi khoản nào là hợp lý.

Đã ký uỷ quyền không thù lao, giữa chừng muốn đổi sang có thù lao được không?

Được, nếu hai bên cùng đồng ý. Nên lập văn bản sửa đổi, bổ sung cùng hình thức với hợp đồng gốc: hợp đồng gốc đã công chứng thì phần sửa đổi cũng nên công chứng. Ghi rõ thù lao tính từ thời điểm nào, phần việc đã làm trước đó có được tính không.

Người được uỷ quyền nhận thù lao có phải chịu trách nhiệm nặng hơn không?

Luật không chia hai mức trách nhiệm riêng. Cả hai loại đều phải bồi thường khi vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại. Thực tế, người nhận tiền công khó viện lý do giúp không công để giảm nhẹ, và được chờ đợi làm việc cẩn thận như người làm nghề.

Có thể thoả thuận thù lao bằng tài sản thay vì tiền không?

Có thể, ví dụ cho người làm thay sử dụng một tài sản trong thời gian nhất định. Nhưng nên định rõ giá trị, thời điểm giao và điều kiện, tránh dùng cách này để che một giao dịch chuyển nhượng tài sản khác, vì giao dịch giả tạo có thể bị tuyên vô hiệu.

Bên uỷ quyền chết thì thù lao phần việc đã làm đòi ai?

Phần thù lao đã đến hạn mà chưa trả là một khoản nợ của người đã mất. Người được uỷ quyền có thể yêu cầu những người thừa kế thanh toán trong phạm vi di sản. Việc giấy uỷ quyền chấm dứt khi người uỷ quyền mất là chuyện hiệu lực, còn khoản tiền công đã phát sinh thì vẫn đòi được.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.